Phòng 10 Bệnh Dễ Lây Qua Đường Tình Dục (Phần 1)

Có rất nhiều bệnh nguy hiểm lây qua đường tình dục như:  Chlamydia, HIV/AIDS, mụn rộp, lậu, giang mai, sùi mào gà, rận mu…, làm thế nào để phòng chống các bệnh này, mời các bạn tiếp tục tìm hiểu nhé!

– Bệnh lây nhiễm qua đường tình dục có thể tấn công bất kỳ ai, nam hay nữ, bất kể tuổi tác, chủng tộc. Thanh thiếu niên và người trưởng thành thường mắc các bệnh này nhiều hơn những đối tượng khác.

– Bạn có thể mắc các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục ở bất kỳ hình thức quan hệ tình dục nào, quan hệ qua đường âm đạo, đường miệng hay hậu môn. Một số bệnh tình dục khác cwó thể lây truyền qua da hay chỉ đơn giản qua một nụ hôn. Điều này có nghĩa là bạn phải biết rõ một người trước khi gần gũi người ấy.

– Khó mà biết được một người có mắc bệnh lây nhiễm qua đường tình dục hay không. Đôi khi, các bệnh này có những triệu chứng mà người mắc bệnh có thể cảm nhận được. Nhưng cũng có khi các triệu chứng bệnh không biểu hiện ra ngoài nên người bệnh không biết là mình bị bệnh. Ngay cả khi bạn không thể thấy các dấu hiệu của bệnh thì bệnh vẫn có thể lây nhiễm cho người khác.

– Một vài bệnh lây nhiễm qua đường tình dục có thể được chữa trị hoàn toàn, nhưng có những bệnh không thể nào chữa khỏi. Nếu mắc phải những bệnh không thể chữa trị được, bạn chỉ có thể cố gắng ngăn chặn các triệu chứng và kiểm soát tình hình.

– Nếu không được chữa trị, các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục có thể dẫn đến biến chứng nguy hiểm như viêm xương chậu, làm hỏng cơ quan sinh dục, khô âm đạo, ung thư cổ tử cung hoặc tử vong. Nếu nghi ngờ mắc bệnh, bạn cần đến gặp bác sỹ ngay.

– Vi sinh vật, virus và vi khuẩn. Vi sinh vật là những sinh vật nhỏ, phải nhìn bằng kính phóng đại lớn như kính hiển vi mới thấy, tồn tại ở nhiều trạng thái. Khi xâm nhập vào cơ thể và biểu hiện bệnh gọi là hiện tượng nhiễm khuẩn. Sắp xếp theo kích thước từ nhỏ đến lớn có ba nhóm vi sinh vật gây bệnh; nhiễm virus (HIV, Herpes…), nhiễm vi khuẩn (giang mai, lậu…), nhiễm ký sinh trùng (hay còn gọi là sinh vật ký sinh, sống nhờ, ví vụ như: nấm, trùng roi…).

Bệnh nhiễm khuẩn do hai nhóm là vi khuẩn và ký sinh trùng có khả năng điều trị bằng các loại thuốc kháng sinh, còn nhiễm virus thì cho đến nay chưa có thuốc nào đặc trị. Khi điều trị nhiễm virus, thầy thuốc chỉ dám mong muốn hạn chế, không cho virus phát triển lan rộng hoặc để bệnh không biểu hiện rầm rộ. Phần còn lại là khắc phục những hậu quả do virus gây ra, chờ cho hết chu kỳ sống của virus thì bệnh sẽ đỡ và coi như đã khỏi. Tuy nhiên rất nhiều bệnh do virus chỉ lắng xuống rồi âm thầm tàn phá cơ thể như HIV, viêm gan B…

1. Bệnh giang mai

Nếu không được điều trị, bệnh giang mai có thể gây nguy hiểm cho các bộ phận bên trong cơ thể, tổn thương thần kinh, mất trí nhớ hoặc tử vong.

Bệnh giang mai do nhiễm xoắn khuẩn giang mai (Treponema pallidum), đây là loại bệnh truyền nhiễm có biểu hiện chủ yếu là viêm loét âm đạo, phát ban ngoài da, đau xương cơ, vì phương thức truyền nhiễm khác nhau nên biểu hiện lâm sàng của bệnh cũng không hoàn toàn giống nhau.

Giang mai giai đoạn đầu trong 2 năm sau khi lây nhiễm bệnh bao gồm giai đoạn 1 và giai đoạn 2, giang mai giai đoạn cuối là hơn 2 năm sau khi lây nhiễm bệnh với giang mai giai đoạn 3.

Giai đoạn 1: Khoảng 7 – 60 ngày sau khi tiếp xúc với người bệnh, sẽ xuất hiện tổn thương ở quy đầu, bao quy đầu, rãnh quy đầu, lỗ niệu đạo, ngoài ra có thể ở môi, lưỡi. Tổn thương này là một dạng viêm loét có đặc điểm nông, hình tròn hoặc bầu dục, bờ nhẵn màu đỏ không ngứa, không đau, không có mủ đáy viêm loét thâm nhiễm cứng. Các triệu chứng trên có thể tự biến đi sau 3 đến 6 tuần lễ kể cả không điều trị nên nhiều người tưởng lầm là khỏi bệnh nhưng thực sự là vi khuẩn lúc đó đã vào máu, bệnh vẫn tiếp tục phát triển với những biểu hiện khác.

Monkey Junior – Quà tặng tri thức cho con!Monkey Junior – Cho Bé Nền Tảng Ngôn Ngữ Vững Chắc

Giai đoạn 2: Triệu chứng của bệnh giang mai chủ yếu là do tổn thương niêm mạc nổi nấm mụn toàn thân. Các triệu chứng khác thường gặp ở giai đoạn này bao gồm sốt, đau họng, mệt mỏi, sụt cân, đau đầu, nổi hạch. Một số trường hợp hiếm gặp có thể kèm theo viêm gan, thận, viêm khớp, viêm màng xương, viêm dây thần kinh thị giác, viêm màng bồ đào, và viêm giác mạc kẽ.

Giai đoạn 3: 60% số người mắc bệnh xuất hiện triệu chứng sưng mủ gây tổn thương tới các cơ quan, hệ thần kinh, tĩnh mạch, nghiêm trọng hơn cò thể đe dọa tới tĩnh mạch và những tổn thương không thể chữa trị.

Giang mai có thể điều trị được bằng thuốc kháng sinh như penicillin. Nếu không chữa trị, bệnh giang mai có thể gây biến chứng cho tim, động mạch chủ, não, mắt, và xương, trong một số trường hợp có thể gây tử vong.

Phòng ngừa: Hiện nay vẫn chưa vác xin chủng ngừa có hiệu quả cho công tác phòng chống. Không nên quan hệ tình dục hay tiếp xúc vật lý trực tiếp với một người bị bệnh để tránh lây truyền bệnh giang mai, có thể sử dụng bao cao su đúng cách, tuy nhiên vẫn có thể không hoàn toàn an toàn. Giang mai không lây qua nhà vệ sinh, các hoạt động hàng ngày, bồn tắm, hay dụng cụ ăn uống hoặc quần áo.

Kiểm tra bằng cách nào: Kiểm tra máu (xét nghiệm máu).

2. HIV

Phải mất 10 năm thì bệnh HIV phát triển thành AIDS toàn diện – nhưng điều đó không có nghĩa là trong từng đó năm bạn không cần kiểm tra. Kiểm tra sức khỏe là điều cần thiết để biết bệnh HIV có xu hướng phát triển nhanh chậm đến đâu.

Trong 2-8 tuần sau khi nhiễm HIV, bất kỳ qua con đường nào, 20% bệnh nhân có biểu hiện của một nhiễm trùng cấp với sốt (38-40 độ C), đau cơ, đau khớp, vã mồ hôi, mệt mỏi, chán ăn, nôn ói, tiêu chảy, viêm họng, phát ban đỏ ngoài da (xuất hiện ở 50% bệnh nhân), hạch to, lách to. Một số bệnh nhân có biểu hiện thần kinh như viêm não, viêm màng não, viêm dây thần kinh ngoại biên… Các triệu chứng này hiện diện trong vòng 5-10 ngày và tự khỏi hoàn toàn. Còn lại, hầu hết những người nhiễm HIV không có biểu hiện gì khi mới nhiễm.

Kiểm tra bằng cách nào: Kiểm tra máu.

3. Chlamydia

Chlamydia là một loại vi sinh vật trung gian giữa vi khuẩn và virus. Sở dĩ có hiện tượng này bởi hệ thống gen di truyền của Chlamydia có thể xếp vào nhóm virus, cũng có thể xếp vào nhóm vi khuẩn. Chlamydia cư trú và gây bệnh tại cơ quan sinh dục cả nam lẫn nữ. Đây là một căn bệnh được y tế Hoa Kỳ khuyến cáo là đứng hàng đầu trong các bệnh nhiễm khuẩn qua đường tình dục trong ba năm gần đây tại quốc gia này.

Nếu không được điều trị, chlamydia đặc biệt nguy hiểm đối với phụ nữ, nó có thể làm tổn thương ống dẫn trứng, có thể làm tăng nguy cơ thai ngoài tử cung (mang thai ngoài tử cung).

Phụ nữ có quan hệ tình dục trước 25 tuổi nên kiểm tra bệnh Chlamydia – một loại bệnh nhiễm khuẩn lây qua đường tình dục.

Kiểm tra bằng cách nào: Kiểm tra nước tiểu hoặc thử nghiệm phòng thí nghiệm của mẫu tăm bông.

4. Herpes sinh dục

Herpes sinh dục có thể gây nhiễm trùng có khả năng gây tử vong ở trẻ sơ sinh.
Các triệu chứng xuất hiện từ ba đến hai mươi ngày sau khi giao hợp với một người bạn tình bị nhiễm siêu vi

Đây là một tình bệnh siêu vi herpes, truyền đi trong lúc giao hợp khi con siêu vi hoạt động trong những lớp da bề mặt xung quanh vùng các cơ quan sinh dục. Hàng triệu người bị nhiễm bệnh con siêu vi này song chắc là chỉ có một phần tư số người bi nhiễm là có triệu chứng thôi.  Những năm gần đây bệnh gia tăng trong giới phụ nữ một cách đáng lo ngại

Căn bệnh này do siêu vi bệnh herpes gây nên. Một loại thuốc khác của cùng con siêu vi này gây nên các mụn rộng xung quanh miệng và mặt nhưng đó là bệnh herpes simplex I; siêu vi hepes simplex II gây ra căn bệnh nhiễm trùng sinh dục, một số bác sĩ nói là việc phân biệt giữa hai con siêu vi khó phân biệt hơn như người ta tưởng trước kia.

Con siêu vi được truyền đi xuyên qua các vùng da ở nơi dễ tiếp xúc bị trầy và thường gặp ở phụ nữ hơn vì vùng sinh dục của họ ấm và ẩm ướt hơn nam giới. Căn bệnh cũng có thể lan truyền do tiếp xúc với những bộ phận khác trong cơ thể bạn, đặc biệt là ngón tay và mắt. Bệnh herpes rất dễ lây. Có 90 % rủi ro nhiễm bệnh nếu một trong hai người bạn tình có một mụn rộp có siêu vi. Tuy nhiên, công trình nghiên cứu mới cho thấy con siêu vi cũng có thể được truyền đi bởi những người không biểu hiện triệu chứng nào cả.

Hiện nay, người ta cho rằng bệnh này không thể nào trị được, một khi vào cơ thể con siêu vi lưu lại đó mặc dù việc trị liệu có thể phụ vào việc giải quyết các triệu chứng hoặc triệt tiêu các đợt bệnh hoành hành. Diễn biến lúc thịnh, lúc suy của căn bệnh có thể gây ra nhiều nỗi khổ sở về mặt tâm lý cũng như đau đớn về thể chất. Thêm vào các vấn đề nghiêm trọng về thể chất nhiều khi mắt bệnh bị suy nhược và lo âu về tình trạng mất khả năng kiểm soát trên cơ thể mình và không biết mình có truyền bệnh cho người khác không.

CÁC TRIỆU CHỨNG MỤN RỘP SINH DỤC Ở NAM GIỚI

– Nam giới mắc bệnh mụn rộp sinh dục lần đầu: từ lúc lây nhiễm đến khi phát bệnh khoảng 3-5 ngày, người bệnh sẽ thấy nóng rát, sau đó xuất hiện nốt ban đỏ. Sau đó, từ các nốt ban đỏ sẽ xuất hiện nhiều đám mụn và thấy ngứa, không lâu sau sẽ phát triển thành mụn nước. Vài ngày sau sẽ thành mụn mủ, sau khi vỡ ra có thể thành viêm loét, cuối cùng đóng vảy, cả quá trình này khoảng 15-20 ngày.

– Nam giới tái phát bệnh mụn rộp sinh dục: có khoảng 60% người mắc bệnh lần đầu sẽ tái phát trong 1 năm. Năm đầu tiên có thể tái phát vài lần, năm thứ hai dần giảm bớt, các triệu chứng sau khi tái phát sẽ nhẹ hơn, không bị sưng hạch bạch huyết, quá trình bệnh cũng ngắn hơn. Nguyên nhân dẫn đến tái phát thường là cảm cúm, sốt, bốc hỏa, kinh nguyệt, quan hệ tình dục nhiều, quá mệt mỏi, tiêu hóa kém và khí hậu khô… Khi tái phát, người bệnh sẽ thấy ngứa và nóng rát.

CÁC TRIỆU CHỨNG MỤN RỘP SINH DỤC Ở Nữ GIỚI

– Sau khi lây nhiễm khoảng 4-5 ngày, bộ phận sinh dục sẽ thấy nóng rát, xuất hiện các đám mụn, có thể thành 1 hoặc nhiều cụm, sau đó phát triển thành mụn nước, vài ngày sau thành mụn mủ. Sau khi vỡ ra sẽ thành viêm loét hoặc loét nông, thấy đau, cuối cùng sẽ đóng vảy. Cả quá trình bệnh khoảng 2-3 tuần.

– Bệnh mụn rộp sinh dục ở nữ giới thường phát sinh ở môi nhỏ âm đạo, âm vật, cổ tử cung…. cũng có thể xuất hiện ở lỗ niệu đạo. Mắc bệnh lần đầu có thể thấy khó chịu toàn thân, sốt nhẹ, đau đầu, sưng hạch bạch huyết.

Phương pháp phòng ngừa: 

– Quan hệ tình dục sạch sẽ và lành mạnh, người bị bệnh mụn rộp sinh dục tuyệt đối không được quan hệ tình dục với bất cứ ai.

– Trong thời gian điều trị không được quan hệ tình dục, khi cần thiết, người bạn tình cũng phải đồng thời đi khám.

– Về việc chăm sóc các tổn thương cục bộ cần chú ý giữ sạch và khô ráo, tránh nhiễm khuẩn

– Sau khi chữa khỏi hoặc người bệnh đã tái phát cần chú ý phòng ngừa cảm cúm, sốc, mệt mỏi để giảm thiểu khả năng tái phát.

– Hiện nay không có phương pháp phòng ngừa đặc hiệu nào. Thực nghiệm chứng minh vacxin có thể tránh nguy cơ gây ung thư. Đồng thời nghiên cứu cũng chỉ ra, tiêm chủng vacxin tiêu diệt HSV hoặc vacxin làm giảm sức sống của virut đều có hiệu quả miễn dịch. Nhưng do tác dụng độc tính nên vẫn chưa được sử dụng chính thức

Kiểm tra bằng cách nào: Khám lâm sàng, xét nghiệm máu hoặc kiểm tra mẫu dịch (dịch âm đạo).

5. Bệnh lậu

Bệnh lậu có thể lây lan qua máu đến các khớp xương, gây ra các triệu chứng giống như viêm khớp.

Bệnh lậu là một bệnh lây truyền qua đường tình dục (STD) gây ra bởi một loại vi khuẩn. Bệnh lậu có thể dễ dàng phát triển trong những vùng ấm và ẩm ướt của đường sinh sản, bao gồm cả cổ tử cung (mở cửa vào tử cung), tử cung (dạ con), và ống dẫn trứng (kênh trứng) ở phụ nữ, và trong niệu đạo (ống tiểu) ở phụ nữ và nam giới. Vi khuẩn cũng có thể phát triển ở miệng, họng, mắt và hậu môn.

 Người mắc bệnh lậu do quan hệ tình dục với người bị bệnh. “Quan hệ tình dục” có nghĩa là quan hệ tình dục qua đường hậu môn, âm đạo hay miệng. Bệnh lậu vẫn có thể được truyền qua chất lỏng ngay cả khi một người đàn ông không xuất tinh. Bệnh lậu cũng có thể lây lan từ người mẹ không được điều trị sang con trong khi sinh.

Một số đàn ông bị bệnh lậu có thể không có triệu chứng nào cả. Tuy nhiên, các triệu chứng thường gặp ở nam giới bao gồm cảm giác nóng rát khi đi tiểu, hoặc một xả trắng, vàng, hoặc màu xanh lá cây từ dương vật thường xuất hiện 1-14 ngày sau khi nhiễm bệnh. Đôi khi người đàn ông với bệnh lậu có được tinh hoàn đau hoặc sưng lên.

Hầu hết phụ nữ bị bệnh lậu không có bất kỳ triệu chứng. Ngay cả khi một người phụ nữ có triệu chứng, chúng thường nhẹ và có thể bị nhầm lẫn với một bàng quang hoặc ngứa âm đạo. Các triệu chứng ban đầu ở phụ nữ có thể bao gồm cảm giác đau đớn hay nóng rát khi đi tiểu, dịch tiết âm đạo tăng, hoặc chảy máu âm đạo giữa chu kỳ. Phụ nữ bị bệnh lậu có nguy cơ phát triển các biến chứng nghiêm trọng từ sự nhiễm trùng, thậm chí nếu các triệu chứng không có mặt hoặc là nhẹ.

Phòng bệnh Lậu:

Vì bệnh lậu có tính lây nhiễm rất cao và có thể lây nhiễm qua rất nhiều cách nên mọi người cần chú ý hơn như:

1. Tuyên truyền kiến thức về tính lây nhiễm của bệnh, thúc đẩy tinh thần đạo đức, phản đối tự do tình dục, tình dục phóng thoáng.

2. Nếu có nghi ngờ đối với bạn tình, để an toàn hãy dùng thuốc kháng sinh, như vậy có thể giảm nhẹ việc lây nhiễm, dùng bao cao su cũng có thể làm giảm nguy co lây nhiễm bệnh lậu.

3. Ở nơi tắm công cộng không nên tắm bồn mà hãy tắm bằng vòi hoa sen.

4. Sau khi bị mắc bệnh nên nhanh chóng đi điều trị, tránh việc lây nhiễm cho người khác, bạn tình cũng nên cùng đi điểu trị.

5. Người bệnh nên chú ý về sinh cá nhân của mình, không nên ngủ cùng giường tắm cùng chậu với người nhà.

6. Sau khi mắc bệnh nên chú ý cách ly, trước khi bệnh được chữa khỏi nên tránh quan hệ tính dục.

7. Nên thường xuyên dùng xà phòng bánh rửa tay, không nên dụi mắt khi tay có mồ hôi.

8. Khi một em bé mới được sinh ra từ người mẹ mắc bệnh lậu, do khi còn trong bụng lậu cầu đã xâm nhập vào mắt nên có thể mắc bệnh viêm mắt. Để đề phòng bệnh mắt của em bé mới sinh, đối với trẻ em mới sinh nên dùng 1 bạc nitrat nhỏ mắt để đề phòng.

Kiểm tra bằng cách nào: Kiểm tra nước tiểu hoặc xét nghiệm các mẫu dịch.

Phòng 10 Bệnh Dễ Lây Qua Đường Tình Dục (Phần 2)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>